Wednesday, 21/10/2020 - 14:17|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Hải Đình

ĐẨY MẠNH GIÁO DỤC STEM TRONG NHÀ TRƯỜNG

Khép lại một năm học với rất nhiều khó khăn vì diễn ra trong điều kiện khá đặc biệt do dịch bệnh Covid-19. Một năm học mới lại bắt đầu, năm học 2020 - 2021 với  bao quyết tâm và hứa hẹn đối với thầy và trò trường THCS Hải Đình. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà nhà trường tiếp tục quan tâm  trong năm học mới đó chính là :Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; tinh giản nội dung dạy học; đẩy mạnh giáo dục STEM trong các nhà trường.

I. Định hướng giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Thời gian gần đây, thuật ngữ STEM, giáo dục STEM được nhắc tới nhiều, không chỉ bởi các thầy cô giáo, các chuyên gia giáo dục, mà còn có cả các chính trị gia, lãnh đạo các tập đoàn công nghệ toàn cầu, điều này cho thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của giáo dục STEM. Việc khuyến khích, thúc đẩy giáo dục STEM tại mỗi quốc gia đều hướng tới mục đích phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các ngành nghề liên quan đến khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học từ đó nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế của quốc gia đó trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, mà đang hiện hữu là cuộc cách mạng 4.0.

Liên quan đến giáo dục STEM, ngày 4 tháng 5 năm 2017 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó có những giải pháp và nhiệm vụ thúc đẩy giáo dục STEM tại Việt Nam. Một trong các giải pháp là: “Thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong đó cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ, tin học trong chương trình giáo dục phổ thông…”. Chỉ thị cũng giao nhiệm vụ cho Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Thúc đẩy triển khai giáo dục về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình giáo dục phổ thông; tổ chức thí điểm tại một số trường phổ thông ngay từ năm học 2017 - 2018. Nâng cao năng lực nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học; tăng cường giáo dục những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4”. Với việc ban hành Chỉ thị trên, Việt Nam chính thức ban hành chính sách thúc đẩy giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông. Điều này sẽ tác động lớn tới việc định hình chương trình giáo dục phổ thông mới.

Với tầm quan trọng như vậy, nhiều người không khỏi băn khoăn rằng, giáo dục STEM được quan tâm thích đáng trong quá trình xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới như thế nào? Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, giáo dục STEM đã được chú trọng thông qua các biểu hiện:

- Chương trình giáo dục phổ thông mới có đầy đủ các môn học STEM. Đó là các môn Toán học; Khoa học tự nhiên; Công nghệ; Tin học;

- Vị trí, vai trò của giáo dục tin học và giáo dục công nghệ trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã được nâng cao rõ rệt. Điều này không chỉ thể hiện rõ tư tưởng giáo dục STEM mà còn là sự điều chỉnh kịp thời của giáo dục phổ thông trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0;

- Có các chủ đề STEM trong chương trình môn học tích hợp ở giai đoạn giáo dục cơ bản như các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Tin học và Công nghệ (ở tiểu học), môn Khoa học tự nhiên (ở trung học cơ sở);

- Định hướng đổi mới phương pháp giáo dục nêu trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể phù hợp với giáo dục STEM ở cấp độ dạy học tích hợp theo chủ đề liên môn, vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn;

- Các chuyên đề dạy học về giáo dục STEM ở lớp 11, 12; các hoạt động trải nghiệm dưới hình thức câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có các hoạt động nghiên cứu STEM;

- Tính mở của chương trình cho phép một số nội dung giáo dục STEM có thể được xây dựng thông qua chương trình địa phương, kế hoạch giáo dục nhà trường; qua những chương trình, hoạt động STEM được triển khai, tổ chức thông qua hoạt động xã hội hóa giáo dục.

Đối với môn Hóa học, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, đặc biệt chú trọng định hướng phát triển năng lực thông qua thiết kế hoạt động dạy học cho mỗi nội dung, mỗi chủ đề học tập là trọng tâm của chương trình mới. Một trong các phương pháp giáo dục được lựa chọn là kết hợp giáo dục STEM trong dạy học nhằm phát triển cho học sinh khả năng tích hợp các kiến thức kỹ năng của các môn học Toán - Kỹ thuật - Công nghệ và Hoá học vào việc nghiên cứu giải quyết một số tình huống thực tiễn.

Như vậy, mục tiêu giáo dục STEM không nhằm đào tạo ngay ra những nhà khoa học hay để tạo ra các sản phẩm có tính thương mại, cạnh tranh, mà nhằm tạo ra những con người tương lai, có đầy đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh để thích nghi với cuộc sống hiện đại, như các năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Giáo dục STEM cũng giúp các em phát triển các năng lực chuyên môn ở dạng tích hợp; khơi gợi niềm say mê học tập cho học sinh và giúp các em khám phá tiềm năng của bản thân. Ngoài ra, nếu coi STEM là một phương pháp giáo dục, thì ngoài các môn học thuộc các lĩnh vực chủ chốt của STEM như Khoa học, Công nghệ, Toán, STEM hoàn toàn có thể ứng dụng vào một số môn học khác như Địa lý, Lịch sử,… một cách phù hợp.

Hiện nay một số trường đang thí điểm giáo dục STEM, đưa vào giảng dạy giáo dục STEM. Thông qua các giờ học, với việc tổ chức nhiều hoạt động giúp học sinh trải nghiệm thực tế, lôi cuốn các em giải quyết các nhiệm vụ của bài học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập, phát triển tư duy sáng tạo. Đồng thời, nhà trường đã xây dựng chương trình học trải nghiệm sáng tạo các môn khoa học tự nhiên và triển khai thực hiện ở các khối lớp. Các giờ học trải nghiệm sáng tạo, học sinh được: Tự mình thực hành, làm thí nghiệm, tự tay hàn các mạch điện có thể phát ra bản nhạc, tạo ra dòng điện từ các vật liệu đơn giản, chế tạo bình loc nước… Từ nhiều hứng thú trong các giờ học, nhiều học sinh đam mê nghiên cứu khoa học và có sản phẩm sáng tạo khoa học.        

Để áp dụng tốt giáo dục STEM, cần đảm bảo các yếu tố như liên môn, thực hành và làm việc nhóm. Giáo dục STEM có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, trong chương trình chính khóa, cụ thể là dạy theo chủ đề từng môn và những chủ đề tích hợp liên môn; trong các câu lạc bộ và hoạt động nghiên cứu khoa học, dưới hình thức làm việc nhóm, làm việc cá nhân. Chương trình các môn học có thể gợi ý các chủ đề áp dụng STEM hoặc các phạm vi mà học sinh có thể thực hiện nghiên cứu khoa học. Cũng cần lưu ý mục tiêu nghiên cứu khoa học của học sinh không nhằm “phát minh” những điều hoàn toàn mới, mà chủ yếu là tạo cho các em hứng thú học tập và sáng tạo.

II. Một số vấn đề chung về giáo dục STEM

1. Khái niệm

STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Mathematics (Toán học),  thường được sử dụng khi bàn đến các chính sách phát triển về Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học của mỗi quốc gia. Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu bởi Quỹ Khoa học Mỹ vào năm 2001.

Với những tiếp cận khác nhau, giáo dục STEM sẽ được hiểu và triển khai theo những cách khác nhau. Các nhà lãnh đạo và quản lý đề xuất các chính sách để thúc đẩy giáo dục STEM, quan tâm tới việc chuẩn bị nguồn nhân lực đáp  ứng yêu cầu của sự  phát triển khoa học, công nghệ. Người làm chương trình quán triệt giáo dục STEM theo cách quan tâm tới nâng cao vai trò, vị trí, sự phối hợp giữa các môn học có liên quan trong chương trình. Giáo viên  thực hiện  giáo dục STEM thông qua hoạt động dạy học để kết nối kiến thức học đường với thế giới thực, giải quyết các vấn đề thực tiễn, để  nâng cao hứng thú, để  hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.

 Nhìn chung, khi đề  cập tới STEM, giáo dục STEM, cần nhận thức và hành động theo cả hai cách hiểu sau đây:

 Một là, TƯ TƯỞNG (chiến lược, định hướng) giáo dục, bên cạnh định hướng giáo dục toàn diện, THÚC ĐẨY giáo dục 4 lĩnh vực: Khoa học, Công nghệ, Kỹ  thuật, Toán  với  mục tiêu  định  hướng và chuẩn bị  nguồn nhân lực đáp  ứng nhu cầu ngày càng tăng của các ngành nghề  liên quan, nhờ  đó, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 Hai là, phương pháp TIẾP CẬN LIÊN MÔN (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán) trong dạy học với mục tiêu: (1) nâng cao hứng thú học tập các môn học thuộc các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ  thuật, Toán; (2) vận dụng kiến thức liên môn để  giải quyết các vấn đề  thực tiễn; (3) kết nối trường học và cộng đồng; (4) định hướng hành động, trải nghiệm trong học tập; (5) hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất người học.

2. Vai trò, ý nghĩa của giáo dục STEM

Việc đưa giáo dục STEM vào trường phổ  thông mang lại nhiều ý nghĩa, phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục phổ thông. Cụ thể là:

- Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà trường, bên cạnh các môn học đang được quan tâm như Toán, Khoa học, các lĩnh vực Công nghệ, Kỹ  thuật cũng sẽ  được quan tâm, đầu tư trên tất cả  các phương diện về đội ngũ giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất.

-  Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án học tập trong giáo dục STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để  giải quyết các vấn đề thực tiễn, học sinh được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ý nghĩa của tri thức với cuộc sống, nhờ đó sẽ nâng cao hứng thú học tập của học sinh.

-  Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh: Khi triển khai các dự án học tập STEM, học sinh hợp tác với nhau, chủ  động và tự lực thực hiện các nhiệm vụ học; được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu khoa học. Các hoạt động nêu trên góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh.

- Kết nối trường học với cộng đồng: Để đảm bảo triển khai hiệu quả giáo dục STEM, cơ sở  giáo dục phổ  thông thường kết nối với các cơ sở giáo dục nghềnghiệp, đại học tại địa phương nhằm khai thác nguồn lực về con người, cơ sở vật chất triển khai hoạt động giáo dục STEM. Bên cạnh đó, giáo dục STEM phổ thông cũng hướng tới giải quyết các vấn đề có tính đặc thù của địa phương.

-  Hướng nghiệp, phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông, học sinh sẽ  được trải nghiệm trong các lĩnh vực STEM, đánh giá được sự phù hợp, năng khiếu, sở  thích của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực STEM. Thực hiện tốt giáo dục STEM  ở  trường phổ thông cũng là cách thức thu hút học sinh theo học, lựa chọn các ngành nghề  thuộc lĩnh vực STEM, các ngành nghề  có nhu cầu cao về nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

III. Giáo dục STEM trong trường trung học

1. Giáo dục STEM trong trường trung học

Giáo dục STEM trong trường trung học là quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực HS thuộc các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. Các kiến thức và kỹ năng về Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học được tổ chức dạy học tích hợp theo chủ đề nhằm giúp HS vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn mang lại hiệu quả và có giá trị.

STEM là cách viết lấy chữ cái đầu tiên trong tiếng Anh của các từ: Science, Technology, Engineering, Maths và được hiểu trong giáo dục như sau:

Science (Khoa học): Gồm các kiến thức về Vật lý, Hóa học, Sinh học và Khoa học trái đất nhằm giúp HS hiểu về thế giới tự nhiên và vận dụng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề khoa học trong cuộc sống hàng ngày.

Technology (Công nghệ): Phát triển khả năng sử dụng, quản lý, hiểu và đánh giá công nghệ của HS, tạo cơ hội để HS hiểu về công nghệ được phát triển như thế nào, ảnh hưởng của công nghệ mới tới cuộc sống.

Engineering (Kỹ thuật): Phát triển sự hiểu biết ở HS và cách công nghệ đang phát triển thông qua qúa trình thiết kế kỹ thuật, tạo cơ hội để tích hợp kiến thức của nhiều môn học, giúp cho những khái niệm liên quan trở nên dễ hiểu. Kỹ thuật cũng cung cấp cho HS những kỹ năng để vận dụng sáng tạo cơ sở Khoa học và Toán học trong quá trình thiết kế các đối tượng, các hệ thống hay xây dựng các quy trình sản xuất.

Maths (Toán): Phát triển ở HS khả năng phân tích, biện luận và truyền đạt ý tưởng một cách hiệu quả thông qua việc tính toán, giải thích, các giải pháp giải quyết các vấn đề về toán học trong các tình huống đặt ra.

Thuật ngữ STEM được dùng trong ngữ cảnh giáo dục để nhấn mạnh đến sự quan tâm của nền giáo dục đối với các môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. Quan tâm đến việc tích hợp các môn học trên gắn với thực tiễn để nâng cao năng lực cho người học. Giáo dục STEM có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cấp độ như: chính sách STEM, chương trình STEM, nhà trường STEM, môn học STEM, bài học STEM hay hoạt động STEM.

2. Chủ đề dạy học STEM trong trường trung học

Chủ đề dạy học STEM trong trường trung học (gọi tắt là chủ đề STEM) là chủ đề được thiết kế dựa trên vấn đề thực tiễn kết hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng của các môn khoa học trong chương trình phổ thông. Trong quá trình dạy học, GV tổ chức cho HS làm việc nhóm, sử dụng công cụ truyền thống và hiện đại, công cụ toán học để tạo ra sản phẩm có ứng dụng thực tế, phát triển kỹ năng và tư duy HS.

Chủ đề STEM cần đảm bảo các tiêu chí sau.

- Chủ đề STEM hướng tới giải quyết các vấn đề trong thế giới thực. Vận dụng kiến thức STEM để giải quyết các vấn đề thực tiễn chính là mục tiêu của dạy học theo quan điểm STEM. Do vậy, bài học STEM không phải là để giải quyết các vấn đề mang tính tưởng tượng và xa rời thực tế mà nó luôn hướng đến giải quyết các vấn đề các tình huống trong xã hội, kinh tế, môi trường trong cộng đồng địa phương của họ cũng như toàn cầu.

Ví dụ: có 2 lon nước ngọt, một lon theo mẫu cũ (lùn, mập), một lon theo mẫu mới (cao, ốm), yêu cầu vận dụng kiến thức của môn Toán học, môn Vật lí để so sánh và làm rõ: Hình dạng như thế nào thì tối ưu? Lon mẫu nào sẽ tiết kiệm nguyên liệu cho nhà sản xuất?... Sau khi tính toán, nhận thấy: Lon mẫu cũ tiết kiệm nguyên liệu hơn lon mẫu mới. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: Tại sao nhà sản xuất hiện nay lại bỏ mẫu cũ để chấp nhận cho ra mẫu mới? Sau khi thảo luận, kết luận được rút ra là: Chấp nhận tốn kém nhiên liệu nhưng lợi nhuận sẽ tăng lên vì đánh trúng vào thị hiếu của người tiêu dùng (mẫu mới cao, ốm nhìn có tính thẩm mỹ hơn, có cảm giác chứa nhiều hơn) nên sản phẩm sẽ được tiêu thụ nhiều hơn…, HS cũng vận dụng kiến thức Hóa học, Sinh học để đo độ chua, độ pH của lon nước ngọt, hàm lượng đường, so sánh với chai nước chanh,…. Từ đó để đánh giá về tâm lý người dùng, cũng như những mặt lợi và hại cho người sử dụng.

- Chủ đề STEM phải hướng tới việc HS vận dụng các kiến thức trong lĩnh vực STEM để giải quyếtTiêu chí này nhằm đảm bảo theo đúng tinh thần giáo dục STEM, qua đó mới phát triển được những năng lực chuyên môn liên quan.

- Chủ đề STEM định hướng thực hành. Định hướng hành động là một đặc điểm của quan điểm STEM. Chỉ khi chủ đề STEM định hướng thực hành mới đảm bảo hình thành và phát triển năng lực cho HS. Điều này sẽ giúp HS có được kiến thức từ kinh nghiệm thực hành chứ không phải chỉ từ lí thuyết. Bằng cách xây dựng các bài giảng theo chủ đề và dựa trên thực hành, HS sẽ được hiểu sâu về lí thuyết, nguyên lí thông qua các hoạt động thực tế. Chính các hoạt động thực tế này sẽ giúp HS nhớ kiến thức lâu hơn và sâu hơn. HS sẽ được làm việc theo nhóm, tự thảo luận tìm tòi kiến thức, tự vận dụng kiến thức vào các hoạt động thực hành rồi sau đó có thể truyền đạt lại kiến thức cho người khác. Với cách học này, GV không còn là người truyền đạt kiến thức nữa mà sẽ là người hướng dẫn để HS tự xây dựng kiến thức cho chính mình.

Ví dụ: Thông qua một hoạt động dạy học làm một chiếc cầu bằng gỗ để thay thế cho một chiếc cầu tại địa phương đã bị hư hỏng, giáo viên lồng ghép kiến thức Khoa học về Vật lý (như trọng lực, trọng tâm), kiến thức về Toán học (như tính toán độ dài, kiến thức hình học), sử dụng các công cụ thiết bị (như kéo, búa, máy tính) để thiết kế và lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Học sinh không chỉ học kiến thức chuyên môn (disciplinary core ideas), mà còn vận dụng các kỹ năng thực hành (practices) và tư duy liên ngành (crosscutting concepts).

- Chủ đề STEM khuyến khích làm việc nhóm giữa các HS. Trên thực tế có những chủ đề STEM vẫn có thể triển khai cá nhân. Tuy nhiên, làm việc theo nhóm là hình thức làm việc phù hợp trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp gắn với thực tiễn. Làm việc theo nhóm là một kĩ năng quan trọng trong thế kỉ 21 bên cạnh đó khi làm việc theo nhóm HS sẽ được đặt vào môi trường thúc đẩy các nhu cầu giao tiếp chia sẻ ý tưởng và cùng nhau phát triển giải pháp.

3. Phân loại chủ đề STEM

3.1. Dựa trên các lĩnh vực STEM tham gia giải quyết vấn đề

- STEM đầy đủ: Là loại hình STEM yêu cầu người học cần vận dụng kiến thức của cả bốn lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề.

- STEM khuyết: Là loại hình STEM mà người học không phải vậndụng kiến thức cả bốn lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề.

3.2. Dựa trên phạm vi kiến thức để giải quyết vấn đề STEM

- STEM cơ bản: Là loại hình STEM được xây dựng trên cơ sở kiến thức thuộc phạm vi các môn học Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học trong chương trình giáo dục phổ thông. Các sản phẩm STEM này thường đơn giản, chủ đề giáo dục STEM bám sát nội dung sách giáo khoa và thường được xây dựng trên cơ sở các nội dung thực hành, thí nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông.

- STEM mở rộng: Là loại hình STEM có những kiến thức nằm ngoài chương trình và sách giáo khoa. Những kiến thức đó người học phải tự tìm hiểu và nghiên cứu. Sản phẩm STEM của loại hình này có độ phức tạp cao hơn.

3.3. Dựa trên mục đích dạy học

- STEM dạy kiến thức mới: Là STEM được xây dựng trên cơ sở kết nối kiến thức của nhiều môn học khác nhau mà HS chưa được học (hoặc được học một phần). HS sẽ vừa giải quyết được vấn đề và vừa lĩnh hội được tri thức mới.

- STEM vận dụng: Là STEM được xây dựng trên cơ sở những kiến thức HS đã được học. STEM dạng này sẽ bồi dưỡng cho HS năng lực vận dụng lí thuyết vào thực tế. Kiến thức lí thuyết được củng cố và khắc sâu.

4. Hình thức tổ chức giáo dục STEM

4.1. Dạy học các môn học thuộc lĩnh vực STEM

Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ  yếu trong nhà trường. Theo cách này, các bài học, hoạt động giáo dục STEM được triển khai ngay trong quá trình dạy học các môn học STEM theo tiếp cận liên môn.

Các chủ đề, bài học, hoạt động STEM bám sát chương trình của các môn học thành phần. Hình thức giáo dục STEM này không làm phát sinh thêm thời gian học tập. Một số hình thức tổ chức thực hiện như sau

- Lồng ghép trong một tiết dạy hoặc một bài học chính khoá.

- Tổ chức thành một tiết dạy hoặc một bài học ngoại khoá.

- Xây dựng mới hoặc lồng ghép với một phòng học bộ môn nhằm trang bị các công cụ thực hành thông dụng để triển khai giáo dục STEM.

- Tổ chức thành một cuộc thi trong phạm vi hẹp của nhóm hoặc lớp.

- Tổ chức thành một cuộc thi trong phạm vi rộng cấp trường, cấp cụm (hoặc quận, huyện), cấp thành phố.

4.2. Hoạt động trải nghiệm STEM

Trong hoạt động trải nghiệm STEM, học sinh được khám phá các thí nghiệm, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống. Qua đó, nhận biết được ý nghĩa của khoa học, công nghệ, kỹ  thuật và toán học đối với đời sống con người, nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM. Đây cũng là cách thức để thu hút sự quan tâm của xã hội tới giáo dục STEM.

Để tổ chức thành công các hoạt động trải nghiệm STEM, cần có sự tham gia, hợp tác của các bên liên quan như trường phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các trường đại học, doanh nghiệp. Trải nghiệm STEM còn có thể được thực hiện thông qua sự hợp tác giữa trường phổ thông với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Theo cách này, sẽ kết hợp được thực tiễn phổ thông với ưu thế về  cơ sở vật chất của giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

          Các trường phổ thông có thể triển khai giáo dục STEM thông qua hình thức câu lạc bộ. Tham gia câu lạc bộ STEM, học sinh được học tập nâng cao trình độ, triển khai các dự  án nghiên cứu, tìm hiểu các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM. Đây là hoạt động theo sở  thích, năng khiếu của học sinh, diễn ra định kỳ, trong cả năm học. Tổ chức tốt hoạt động câu lạc bộ STEM cũng là tiền đề triển khai các dự án nghiên cứu trong khuôn khổ cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học. Bên cạnh đó, tham gia câu lạc bộ STEM còn là cơ hội để học sinh thấy được sự  phù hợp về năng lực, sở thích, giá trị của bản thân với nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực STEM.

4.3. Hoạt động nghiên cứu khoa 

Giáo dục STEM có thể được triển khai thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ  thuật với nhiều chủ đề khác nhau thuộc các lĩnh vực robot, năng lượng tái tạo, môi trường, biến đổi khí hậu, nông nghiệp công nghệ cao… Hoạt động này không mang tính đại trà mà dành cho những học sinh có năng lực, sở tích và hứng thú với các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, kỹ thuật giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tổ chức tốt hoạt động sáng tạo Khoa học kỹ thuật là tiền đề triển khai các dự án nghiên cứu trong khuôn khổ cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học được tổ chức thường niên. 

5. Quy trình xây dựng bài học STEM

5.1. Bước 1: Lựa chọn chủ đề bài học

Căn cứ vào nội dung kiến thức trong chương trình môn học và các hiện tượng, quá trình gắn với các kiến thức đó trong tự nhiên; quy trình hoặc thiết bị công nghệ có sử dụng của kiến thức đó trong thực tiễn... để lựa chọn chủ đề của bài học. Những  ứng dụng đó có thể  là: Hiện tượng tán sắc ánh sáng, tính chất sóng của ánh sáng, máy quang phổ lăng kính; Hiện tượng khúc xạ và phản xạ  ánh sáng, gương cầu và thấu kính; ống nhòm, kính thiên văn; Sự chìm, nổi, lực đẩy Ác-si-mét, thuyền/bè; Hiện tượng cảm ứng điện từ, định luật cảm  ứng điện từ và định luật Lenxơ, máy phát điện/động cơ điện; Vật liệu cơ khí; Các phương pháp gia công cơ khí; Các cơ cấu truyền và biến đổi chuyển động; Các  mối ghép cơ khí; Mạch điện điều khiển cho ngôi nhà thông minh; Sữa chua/dưa muối, vi sinh vật, quy trình làm sữa chua/muối dưa; Thuốc trừ sâu, phản ứng hóa học, quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ  sâu; Hóa chất, phản ứng hóa học, quy trình xử  lí chất  thải; Rau an toàn, quy trình trồng rau an toàn...

5.2. Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết

Sau khi chọn chủ đề của bài học, cần xác định vấn đề cần giải quyết để giao cho học sinh thực hiện sao cho khi giải quyết vấn đề đó, học sinh phải học được những kiến thức, kĩ năng cần dạy trong chương trình môn học đã được lựa chọn (đối với STEM kiến tạo) hoặc vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã biết (đối với STEM vận dụng) để xây dựng bài học. Theo những ví dụ nêu trên, nhiệm vụ giao cho học sinh thực hiện trong các bài học có thể là: Thiết kế, chế tạo một máy quang phổ đơn giản trong bài học về bản chất sóng của ánh sáng; Thiết kế, chế  tạo một ống nhòm đơn giản khi học về hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng; Chế tạo bè nổi/thuyền khi học về Định luật Ác-si-mét; Chế tạo máy phát điện/động cơ điện khi học về  cảm ứng điện từ; Thiết kế mạch lôgic khi học về  dòng điện không đổi; Thiết kế  robot leo dốc, cầu bắc qua hai trụ, hệ thống tưới nước tự  động, mạch điện cảnh báo và điều khiển cho ngôi nhà thông minh; Xây dựng quy trình làm sữa chua/muối dưa; Xây dựng quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ sâu trong rau/quả; Xây dựng quy trình xử  lí hóa chất ô nhiễm trong nước thải; Quy trình trồng rau an toàn…

5.3. Bước 3: Xây dựng tiêu chí của thiết bị/giải pháp giải quyết vấn đề

Sau khi đã xác định vấn đề cần giải quyết/sản phẩm cần chế tạo, cần xác định rõ tiêu chí của giải pháp/sản phẩm. Những tiêu chí này là căn cứ quan trọng để đề xuất giả  thuyết khoa học/giải pháp giải quyết vấn đề/thiết kế mẫu sản phẩm. Đối với các ví dụ nêu trên, tiêu chí có thể là: Chế tạo máy quang phổ sử dụng lăng kính, thấu kính hội tụ; tạo được các tia ánh sáng màu từ nguồn sáng trắng; Chế tạo ống nhòm/kính thiên văn từ thấu kính hội tụ, phân kì; quan sát được vật ở xa với độ bội giác trong khoảng nào đó; Quy trình sản xuất sữa chua/muối dưa với tiêu chí cụ thể của sản phẩm (độ ngọt, độ chua, dinh dưỡng...); Quy trình xử  lí dư lượng thuốc trừ sâu với tiêu chí cụ  thể  (loại thuốc trừ  sâu, độ  "sạch" sau xử  lí); Quy trình trồng rau sạch với tiêu chí cụ thể ("sạch" cái gì so với rau trồng thông thường)...

5.4. Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học

Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực với 3 loại hoạt động học đã nêu ở trên. Mỗi hoạt động học được thiết kế rõ ràng về mục đích, nội dung và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành. Các hoạt động học đó có thể được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học (ở trường, ở nhà và cộng đồng).

Cần thiết kế bài học điện tử trên mạng để hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động học của học sinh bên ngoài lớp học.

6. Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học STEM

6.1. Hoạt động 1: Tìm hiểu thực tiễn, phát hiện vấn đề

a) Chuyển giao nhiệm vụ

-  Nhiệm vụ ban đầu giao cho học sinh có thể là yêu cầu tìm hiểu cấu tạo và giải thích nguyên tắc hoạt động của một thiết bị công nghệ; tìm hiểu và giải thích về  một quy trình sản xuất... với ý đồ làm xuất hiện vấn đề cần nghiên cứu để "cải tiến" thiết bị hoặc quy trình đó.

-  Trong trường hợp cần thiết, quá trình chuyển giao nhiệm vụ cho bao gồm việc giới thiệu về các kiến thức khoa học có liên quan và được sử dụng trong tình huống, quy trình hay thiết bị công nghệ mà học sinh phải tìm hiểu.

- Nhiệm vụ ban đầu giao cho học sinh phải đảm bảo tính vừa sức để lôi cuốn được học sinh tham gia thực hiện; tránh những nhiệm vụ quá dễ hoặc quá khó, không tạo được hứng thú đối với học sinh.

      Ví dụ:

          Nghiên cứu về cấu tạo và giải thích nguyên lí hoạt động của một chiếc ống nhòm thông dụng (sau khi tìm hiểu và giải thích, học sinh sẽ  học được kiến thức mới về  thấu kính và sự  tạo ảnh qua thấu kính; cấu tạo và cách quan sát ảnh qua ống nhòm; độ phóng đại, độ bội giác...), từ đó có thể đặt ra yêu cầu chế tạo một chiếc ống nhòm khác "ưu việt" hơn.

          Tiến hành một thí nghiệm về hiện tượng điện phân (xác định khối lượng kim loại bám vào điện cực, điện năng tiêu thụ...);  giải thích cơ chế hóa học; đề xuất và thử nghiệm phương án mạ điện hiệu quả.

          Nghiên cứu tác dụng của phân bón hóa học (loại phân bón cụ thể); giải thích hướng dẫn sử dụng (cần học lí thuyết); đề xuất sử dụng cho một loại rau nào đó; thử nghiệm trồng và đánh giá sản phẩm.

          Nghiên cứu quy trình làm sữa chua/muối dưa; giải thích (cần học lí thuyết); đề xuất và thử nghiệm quy trình làm sữa chua/muối dưa theo tiêu chí mới.

          Thiết kế mạch điều khiển động cơ tự động đóng/ngắt theo mục đích sử dụng (khi học về dòng điện không đổi).

b) Học sinh hoạt động tìm tòi, nghiên cứu

          Học sinh thực hiện hoạt động tìm hiểu về quy trình/thiết bị được giao để  thu thập thông tin, xác định vấn đề cần giải quyết và kiến thức có liên quan cần sử dụng để giải quyết vấn đề.

c) Báo cáo và thảo luận

          Căn cứ vào kết quả hoạt động tìm tòi, nghiên cứu của học sinh, giáo viên tổ chức cho các nhóm học sinh báo cáo, thảo luận, xác định vấn đề cần giải quyết.

d) Nhận xét, đánh giá

          Trên cơ sở các sản phẩm của cá nhân và nhóm học sinh, giáo viên đánh giá, nhận xét, giúp học sinh nêu được các câu hỏi/vấn đề cần tiếp tục giải quyết, xác định được các tiêu chí cho giải pháp (sản phẩm khoa học hoặc sản phẩm kĩ thuật) cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra. Từ đó định hướng cho hoạt động tiếp theo của học sinh.

6.2. Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền (tổ chức dạy học các kiến thức có liên quan theo chương trình giáo dục phổ thông; sử  dụng thời gian phân phối của chương trình cho nội dung tương ứng)

a) Học kiến thức mới

          Học sinh được hướng dẫn hoạt động học kiến thức mới có liên quan, bao gồm hoạt động nghiên cứu tài liệu khoa học (sách giáo khoa), làm bài tập, thí nghiệm, thực hành để nắm vững kiến thức.

b) Giải thích về quy trình/thiết bị đã tìm hiểu

          Vận dụng kiến thức mới vừa học và các kiến thức đã biết từ  trước, HS cố gắng giải thích về quy trình/thiết bị được tìm hiểu qua đó xác định được những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập.

c) Báo cáo và thảo luận

          GV tổ chức cho các nhóm HS trình bày về  kiến thức mới đã tìm hiểu và vận dụng chúng để giải thích những kết quả đã tìm tòi, khám phá được trong Hoạt động 1.

d) Nhận xét, đánh giá

          Căn cứ vào kết quả báo cáo và thảo luận của các nhóm HS, GV nhận xét, đánh giá, "chốt" kiến thức, kĩ năng để HS ghi nhận và sử dụng; làm rõ hơn vấn đề cần giải quyết; xác định rõ tiêu chí của sản phẩm ứng dụng mà HS phải hoàn thành trong Hoạt động 3.

6.3. Hoạt động 3: Giải quyết vấn đề

a) Đề xuất giả thuyết/giải pháp giải quyết vấn đề

          Căn cứ vào tiêu chí của sản phẩm (hoàn thiện quy trình hoặc chế tạo thiết bị), HS xuất giả  thuyết hoặc giải pháp giải quyết vấn đề (bao gồm thiết kế phương án thí nghiệm hoặc mẫu thử nghiệm).

          Khuyến khích HS thảo luận theo nhóm để đề xuất các ý tưởng khác nhau, sau đó thống nhất lựa chọn giải pháp khả thi nhất.

b) Thử nghiệm giải pháp

          HS lựa chọn dụng cụ thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm theo phương án đã thiết kế/chế tạo thiết bị theo mẫu thử nghiệm đã thiết kế; phân tích số liệu thí nghiệm/thử nghiệm; rút ra kết luận/phân tích kết quả thử nghiệm.

c) Báo cáo và thảo luận

          GV tổ chức cho các nhóm HS báo cáo kết quả và thảo luận.

d) Nhận xét, đánh giá

          Trên cơ sở sản phẩm học tập của HS, GV nhận xét, đánh giá; HS ghi nhận các kết quả và tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

7. STEM và một số phương pháp dạy học tích cực khác

          Dạy học STEM có một số ưu thế so với các phương pháp dạy học tích cực khác như sau:

PPHD

Bàn tay nặn bột

Dạy học dự án

Nghiên cứu khoa học

Giáo dục STEM

Mục tiêu

Hình thành kiến thức

Rèn luyện giải quyết một vấn đề thực tiễn

Rèn luyện giải quyết một vấn đềthực tiễn mới

Tiếp cận thực tiễn thông qua hoạt động thực hành

Hạn chế- Ưu điểm

Dễ gây nặng nề, quá tải

Cần nhiều thời gian, công sức

Yêu cầu cao về mặt tư duy

Đa dạng về mức độ, đối tượng, trình độ

 

IV. Xây dựng một số chủ đề STEM

1. Chủ đề STEM chất chỉ thị màu từ thiên nhiên

a) Vấn đề thực tiễn: Trong phòng thí nghiệm, để nhận biết các chất có tính axit, tính kiềm,… người ta thường sử dụng quỳ tím hoặc dung dịch phenolphtalein. Trong khi đó, các chất chỉ thị màu được chiết tách từ thiên nhiên như: bắp cải tím, hoa dâm bụt, củ nghệ,… gần gũi với HS. Hơn nữa, khi tham gia điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím, hoa dâm bụt thì thì HS được trải nghiệm như là một nhà khoa học để chiếm lĩnh các kiến thức về chất chỉ thị màu, cách nhận biết tính axit và tính kiềm nhờ chất chỉ thị màu thiên nhiên qua đó góp phần phát triển năng lực và tư duy khoa học cho HS.

b) Kiến thức STEM trong chủ đề

Sản phẩm

Khoa học

(S)

Công nghệ

(T)

Kỹ thuật

(E)

Toán học

(M)

Chất chỉ thị màu từ bắp cải tím

Chỉ số pH, chất chỉ thị màu.

Chiết và tách anthocyanin từ bắp cải tím.

Quy trình điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím.

Tính chỉ số pH, nồng độ mol của dung dịch.

Chất chỉ thị màu từ hoa dâm bụt

Chỉ số pH, chất chỉ thị màu.

Chiết và tách chất chỉ thị màu thiên nhiên từ hoa dâm bụt.

Quy trình điều chế chất chỉ thị màu từ hoa dâm bụt.

Tính chỉ số pH, nồng độ mol của dung dịch.

c) Mục tiêu của chủ đề

          Kiến thức

- Trình bày được quy trình điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím, hoa dâm bụt.

- Nêu được cách sử dụng chất chỉ thị màu từ bắp cải tím, hoa dâm bụt để nhận biết một số chất như: nước xà phòng, giấm, nước cất,…

- Trình bày được thang đo pH.

          Kỹ năng

- Điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím, hoa dâm bụt.

- Sử dụng chất chỉ thị màu từ bắp cải tím, hoa dâm bụt để nhận biết một số chất như: nước xà phòng, giấm, nước cất,…

- Lắng nghe ý kiến đóng góp, bảo vệ được chính kiến và kết quả thực hiện được của nhóm.

          Thái độ

- Có trách nhiệm với nhiệm vụ chung của nhóm.

- Thân thiện, năng động, nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ.

- Tuân thủ các quy tắc an toàn phòng thí nghiệm.

d) Bộ câu hỏi định hướng

- Câu hỏi khái quát: Làm thế nào để phân biệt tính axit hay tính kiềm của các dung dịch hóa học.

- Câu hỏi bài học: Điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím như thế nào? Điều chế chất chỉ thị màu từ hoa dâm bụt như thế nào?

e) Tổ chức dạy học

  • Chuẩn bị

- GV sưu tầm video hướng dẫn điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím

- GV cùng HS chuẩn bị các nguyên liệu, dụng cụ như: cốc thủy tinh, bình thủy tinh tam giác, giấy lọc, khay nhựa, bắp cải tím, ống hút nhỏ giọt,…

  • Giao nhiệm vụ

- Hình thức hoạt động: theo nhóm, trên lớp.

- Thời gian: 45 phút.

- GV giao nhiệm vụ cho các nhóm: Điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím.

  • GV: Hướng dẫn thực hiện thông qua video
  • HS: Thực hiện điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím

- Bước 1: Đại diện các nhóm nhận dụng cụ, nguyên liệu.

- Bước 2: Các nhóm tiến hành điều chế chất chỉ thị màu từ bắp cải tím.

- Bước 3: Thử nghiệm chất chỉ thị màu từ bắp cải tím.

+ Đại diện các nhóm nhận thêm các dung dịch: nước xà phòng, giấm, nước cất,…

+ Các nhóm tiến hành thí nghiệm: cho dung dịch chiết tách từ bắp cải tím vào lần lượt các lọ dung dịch nước xà phòng, giấm, nước cất,… Quan sát và ghi nhận sự thay đổi màu sắc của chất chỉ thị màu.

- Bước 1: Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả. Các nhóm cần làm rõ: các bước tiến hành, kết quả thay đổi màu của chất chỉ thị từ bắp cải tím.

- Bước 2: GV tổ chức các nhóm nhận xét, góp ý và bổ xung để phần trình bày được hoàn thiện.

- Bước 3: GV nhận xét, đánh giá và kết luận về kiến thức của chất chỉ thị màu từ bắp cải tím.

2. Chủ đề STEM phòng học xanh sáng tạo

a) Vấn đề thực tiễn: Thiết kế góc học tập gần gũi với thiên thiên nhằm giảm tính đơn điệu của không gian học tập, giúp góc học tập trở nên sinh động hơn, việc học tập trở nên thoải mái hơn. Chủ đề này đã vận dụng quy trình trồng cây thủy canh để tạo lập một góc xanh trong phòng học, lớp học. Tham gia chủ đề, HS được trải nghiệm quá trình sinh trưởng của thực vật, tự học được các kiến thức như hiện tượng mao dẫn, các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của thực vật,…

b) Kiến thức STEM trong chủ đề

Sản phẩm

Khoa học

(S)

Công nghệ

(T)

Kỹ thuật

(E)

Toán học

(M)

Phòng học xanh

Hiện tượng mao dẫn, các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của thực vật, phân bón hóa học.

Vỏ chai, xơ dừa, vải.

Quy trình trồng cây thủy canh.

Tính tỉ lệ nảy mầm của hạt. 

c) Mục tiêu của chủ đề

          Kiến thức

- Trình bày được quy trình trồng cây thủy canh.

- Vận dụng các kiến thức hiện tượng mao dẫn, phân bón hóa học, các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của thực vật,… để trồng cây thủy canh nhằm xây dựng góc xanh lớp học.

          Kỹ năng

- Xây dựng và thực hiện được phương án phòng học xanh.

- Tự tin giới thiệu phòng học xanh do nhóm thực hiện.

- Phân công các thành viên chăm sóc, theo dõi quá trình sinh trưởng của cây trong phòng học xanh.

          Thái độ

- Yêu thiên nhiên và biết bảo vệ cây xanh.

- Có trách nhiệm và hoành thành tốt nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ phòng học xanh.

d) Bộ câu hỏi định hướng

- Câu hỏi khái quát: Làm sao để không gian lớp học trở nên thoải mái hơn

- Câu hỏi bài học: Quy trình trồng cây thủy canh như thế nào? Hãy lập phương án xây dựng phòng học xanh.

- Câu hỏi nội dung: Thủy canh là gì? Để làm một chậu thủy canh, cần những vật liệu gì và làm như thế nào? Chăm sóc cây thủy canh như thế nào?

e) Tổ chức dạy học

  • Chuẩn bị

- Vỏ chai nhựa, vải, xơ dừa, phân bón hóa học, hạt giống, kẽm, giá đỡ,…

- Bản vẽ thiết kế.

  • Giao nhiệm vụ

- Hình thức hoạt động: theo nhóm, trên lớp.

- GV giao nhiệm vụ cho các nhóm: 1 phòng học xanh, 1 poster thuyết minh về phòng học xanh.

- Làm việc nhóm: Nhóm trưởng huy động các thành viên lập kế hoạch thực hiện chủ đề.

  • Thực hiện chủ đề

Giai đoạn 1: Thiết kế phương án xây dựng phòng học xanh

- Thời gian: 45 phút.

- Làm việc nhóm: Nhóm trưởng chỉ đạo các thành viên thiết kế phương án xây dựng góc xanh lớp học.

+ Bước 1: Tìm kiếm thông tin.

          GV chuẩn bị một số tài liệu hướng dẫn xây dựng góc xanh lớp học, trồng cây thủy canh. Ngoài ra, hướng dẫn HS tra cứu thông tin trên mạng internet.

+ Bước 2: Thiết kế phương án xây dựng góc xanh lớp học.

          Nhóm trưởng huy động các thành viên phân tích thông tin có được từ internet, tài liệu,… sau đó có các ý tưởng, phương án từ đó tổng hợp và thống nhất phương án xây dựng góc xanh lớp học.

+ Bước 3: Trình bày phương án xây dựng góc xanh lớp học.

          Các nhóm trình bày phương án xây dựng góc xanh lớp học, các nhóm khác phản biện, góp ý để hoàn thiện phương án.

Thực hiện chủ đề

     Thực hiện báo cáo

Giai đoạn 2: Thực hiện xây dựng phòng học xanh

- Thời gian: 2 tuần.

- Làm việc nhóm: Nhóm trưởng huy động các thành cùng tham gia chế tạo dụng cụ thủy canh, gieo hạt, chăm sóc cây trồng.

   Thực hiện báo cáo

- Thời gian: 45 phút.

- Hình thức hoạt động: theo nhóm, trên lớp.

- GV huy động các nhóm tập trung, tiến hành báo cáo kết quả chủ đề “Phòng học xanh- Thủy canh”

+ Bước 1: Đại diện các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.

+ Bước 2: Các nhóm phản biện, nhận xét và tiến hành đánh giá lẫn nhau.

+ Bước 3: GV nhận xét, đánh giá, khích lệ các nhóm hoàn thành nhiệm vụ đồng thời nhắc nhở, phê bình nhóm/cá nhân không tích cực, không hoàn thành nhiệm vụ.

  Từ những hiểu biết về giáo dục STEM để từ đó định hướng cho thầy cô trong việc thiết kế bài dạy STEM, tổ chức các hoạt động trải nghiệm có hiệu quả và hướng dẫn học sinh đam mê khám phá, tìm tòi, có những ý tưởng sáng tạo trong khoa học kĩ thuật. Chúng ta tin tưởng rằng sự đổi mới ban đầu sẽ có những khó khăn, tư duy tiếp nhận còn có những ý kiến trái chiều nhưng với quyết tâm cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho học sinh thế kỷ 21; triển khai giáo dục STEM để đón đầu xu hướng phát triển giáo dục, sẽ đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển cuả con người trong tương lai.Thầy và trò trong nhà trường sẽ hoàn thành tốt mục tiêu năm học và đem đến những trái ngọt đầu mùa.

                                   

 

Tác giả: Trương Thu Hiền
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 18
Hôm qua : 23
Tháng 10 : 1.003
Năm 2020 : 14.508